1. Nén hương trầm dâng lên Tổ phụ:
Nhiều lần đọc, bổ sung, chỉnh sửa những trang vừa viết, khi soát lại
tôi thấy mặc dù chưa được viên mãn, song cũng rất vui là mình đã cơ bản
hoàn thành được dự định, thực hiện được di nguyện của phụ thân.
Tôi đã tìm hiểu học hỏi và sắp xếp, lược chép lại những nhận thức về
Gia đình, Gia tộc, về Việc họ, về Dư địa chí những vùng đất
liên quan, sự tụ lập, phiêu tán hay phát triển của dòng Trần Văn gốc Nguyễn Văn. Đây là những kiến thức mà tôi chắt lọc được qua đọc sách, tích
tụ được qua nghe, học nhiều nơi, hỏi nhiều người và chiêm nghiệm bằng
thực tế. Tôi viết ra đây không phải để dạy đời, khoe chữ mà để lưu lại
cho con cháu cùng biết.
Nhưng nội dung chính, quan trọng hơn là tôi đã sưu tầm, ghi lại được
việc Cụ Tổ ...... đời từ Hà Tĩnh sang khẩn hoang, biến vùng lăn lác ven
sông Lam thành ruộng đồng, lập xóm tại Xóm Trường Kỳ, xã Vĩnh Thọ Thanh Chương từ Thế kỉ.............mà
nay là Xóm 8A xã Thanh Chi, huyện Thanh Chương ở Nghệ An. Mở
mang vùng này và sự khơi mào, duy trì việc họ tại đây. Đồng thời tôi
cũng đã ghi lại những điều còn trống hay chưa rõ; những điểm chưa thống
nhất và quá trình sưu tầm tư liệu, cách xây dựng, soạn thảo cuốn Gia phả
này của bản thân.
| Ông tộc trưởng đang dâng hương lên bàn thờ tổ |
2. Chuyện dở hay đúc thành bài học:
Họ Trần Văn ta dẫu không có mấy “bí truyền”, “Di ngôn”, “Di cảo” nhưng cũng
xứng dòng “Tiêu biểu hương thôn”. Trong họ đã có người được lưu danh
sử sách và cũng có nhiều người đỗ đạt, trưởng thành ra làm việc cho
thôn, cho xã; có người đã bỏ mình vì nước, để lại bao mồ hôi, xương máu
mở đất, lập làng, giữ yên xóm bản. Mang sẵn dòng máu cải cách, mở mang
của tiền nhân, Thuỷ
Tổ ta đã rời bản quán bên Ích Mẫu, Phù Lưu huyện can Lộc, Hà Tĩnh (nay là huyện ............Tỉnh hà
Tĩnh) sang khai cơ đất Thanh Chi
Tổ ta đã rời bản quán bên Ích Mẫu, Phù Lưu huyện can Lộc, Hà Tĩnh (nay là huyện ............Tỉnh hà
Tĩnh) sang khai cơ đất Thanh Chi
Trong họ
không ai nợ máu, phản dân, làm tổn thương đến thanh danh dòng tộc, quê
hương. Người chăm lo sản xuất, kinh doanh có của ăn, của để biết san sẻ,
chu cấp cho bà con nội tộc, trong thôn, ngoài tổng, công đức cho việc
họ, việc làng. Theo thời gian, họ ngày một đông, Ngành, Chi nào cũng
muốn trở nên Hoàn mĩ hơn, gắng giữ lấy cái Nhân, cái Đức. Điều đó
sẽ để lại ân đức, bài học bổ ích cho con cháu và cho cả xóm, thôn, xã,
huyện…đóng góp xứng đáng vào sự hình thành, đổi mới của diện mạo quê
hương, đất nước. Tạo dựng, vun đắp nên Gia phong thuộc về mọi thành
viên, mọi gia đình, mọi chi phái trong Gia tộc, tất nhiên, mỗi người mỗi
mức độ khác nhau.
Ngót 300 năm qua chưa thấy nhà nào có cảnh Ngũ Đại đồng đường hay Tứ Đại đồng đường mà chủ yếu là các gia đình hai, ba thế hệ.
Các cụ xưa ngoài vợ cả còn có thêm một hay nhiều vợ thứ để mong
đông con, nhiều cháu, mạnh thế lực. Phần lớn đó là những cụ giầu có,
thuộc giới chức dịch làng tổng.
| Con cháu trong họ tộc Trần Văn đang kính cẩn dâng hương |
Song thực tế cho thấy “Hoa khai bất trạch bần gia địa” (hoa nở chẳng lựa đất nhà nghèo) và con cái muốn trưởng thành rất cần cái
uy của người cha, đúng như cổ nhân đã nói: “Mẹ đánh ba năm, không bằng
cha hăm một tiếng”. Người cha (Nghiêm đường”) cổ vũ, động viên và
luôn răn đe, giáo dục vợ, con. Nhưng nếu quá lạm dụng điều đó thì cũng
sẽ tạo ra một hệ lụy không hay bởi “Giáo đa thành oán” (Dạy nhiều
thành ra thù giận). Mặt khác điều may khó đến thường xuyên (Phúc vô song
chí hay Họa Phúc không cửa). Một số người, cả trai lẫn gái,
dâu hay rể trót mắc sai nếu sớm biết lỗi và sám hối thì đều được họ mạc
thứ tha và hậu vận cũng được tốt đẹp. Đó chính là “Giáo nhi hậu thiện”
(Nhờ nghe lời dạy bảo mà sau đó trở nên lành) do đó đã Hoán
ác thành nhân. Nhưng trong việc này cần nhớ : “Giáo tử anh hài, Giáo phụ
sơ lai” (Dạy con từ thuở còn thơ, Dạy vợ từ thuở ban sơ mới
về) mới có hiệu quả tốt, bền.
Máu cờ bạc đã hại nhiều người đến khuynh gia bại sản; tính gia
trưởng thích lên mặt dạy người, tính ích kỉ nặng tâm lí Chi ta, Ngành
lớn của trai đinh, hay tính lăng loàn, đưa chuyện, tham lam, cậy thế
ngoại tộc của dâu, của gái đã dẫn đến huynh đệ tương tàn, anh em cách
mặt để gương xấu cho đời sau, có lấy lại được cũng gượng gạo lắm. Đúng
là: “Phúc thủy nan thu” (nước đổ khó hút lại). Đó còn là lỗi lầm
lớn, khôn chuộc lại : “Hoạch tội ư Thiên vô sở đảo dã” (Mắc
tội với Trời thì không cầu cúng vào đâu được).
Tính ưa ổn định, giữ nếp nhà, tâm lí làng xã có những điều hay, phát
huy tác dụng tốt trong một số trường hợp, nhất là những ngày đầu gian
khó mở đất, lập làng, trong chiến tranh bảo vệ xóm quê. Song đó lại là
rào cản cho sự đột phá trong phát triển kinh tế thời xây dựng hòa bình.
Cho nên nhìn chung toàn họ chẳng mấy người giầu, bứt vượt lên hẳn so với
mặt bằng chung. Những người tha phương và hậu duệ Cụ.....thì kinh
tế và quan lộ có khá hơn chút ít.
Họ ta từ xưa đã biết và thực hiện theo lẽ sống: người có điều kiện
học hành, công tác thì gắng công trau dồi, mang hiểu biết và trí thức ra
giúp quê, giúp đời, vì dân, vì nước. Người kinh doanh làm nghề có thu
nhập nhiều phải nêu cao tính trung thực, hiệu quả. Người làm ruộng, làm
vườn chăm chỉ, làm ăn có kế hoạch, biết tính toán. Người giầu sang không
lấy thế làm kiêu mạn, người nghèo thấp không lấy đó làm điều mặc cảm
hay sinh ra đạo tặc. Ai ai cũng phải nên làm việc nghĩa, việc nhân, ghi
nhớ công đức tổ tiên, phấn đấu tô điểm thêm cho truyền thống gia tộc, họ
hàng. Tất cả mong cho họ mãi trường tồn, phát triển, càng ngày càng có
đóng góp nhiều cho quê hương, đất nước. Trong họ, tuy chưa có thành viên
nào mắc trọng tội nhưng cũng có một vài “con sâu” hư hỏng, mắc vòng lao
lý. Đó là do cha mẹ mải làm ăn, sao nhãng việc kèm cặp, dũa rèn hoặc
quá lành không kiểm soát nổi con; gia cảnh túng bấn không cho con cái
học hành; cha mẹ chia lìa, bỏ mặc đàn con hay làm ăn dễ dãi nuông con
quá mức. Hoặc có tuy thuận đủ điều nhưng cách giáo dục con sai lầm, quên
đi đạo lý, truyền thống, quên điều: gia đình hòa thuận thì muôn việc
đều hưng thịnh (Gia hòa vạn sự hưng). Đa phần, mọi thế hệ đều có
những người, tuy khó khăn về nhiều mặt nhưng rất tâm huyết với việc họ.
Đặc biệt là trong việc tạo dựng Từ đường, duy trì cúng giỗ, tưởng niệm
Tổ tiên, soạn thảo Gia phả, chắp nối nhận họ. Nhưng do nhiều nguyên
nhân, trong đó có vấn đề lực bất tòng tâm và có thành viên còn tỏ
ra miễn cưỡng, tự ti, tự ái lẫn nhau đứng ngoài nên việc họ dễ bị đứt
quãng.
3. Trọng trách này giao lại cháu con:
Ở nước ta, họ Hồ đã chứng minh được Trạng nguyên Hồ Hưng Dật là Đức
Nguyên tổ của các dòng họ Hồ trên toàn cõi Việt Nam (từ TQ sang vào đời
Hậu Hán, 974-950) và những người họ Hồ đều coi Quỳnh Đôi, Nghệ An là nơi
khởi nguồn của họ. Hay họ Phạm toàn quốc đều coi Danh tướng Phạm Tu
(476-545), người làng Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội - một công thần bậc
nhất của nhà Tiền Lý (Vạn Xuân) là Thượng Thuỷ tổ và được cúng giỗ vào
20 tháng 7 âm.
Nhưng họ Trần ta chưa làm được việc đó . Không phải thiếu người
xứng đáng mà chủ yếu chưa có người đứng ra tổ chức, khảo cứu, minh chứng. Việc
tìm về cội nguồn và chắp nối dòng tộc mới có vài người chú tâm, nhiệt
thành còn một số chưa thấu hiểu, hưởng ứng đạo lý này. Chưa có ai đủ
Lực, có Tâm đứng ra làm Mạnh Thường Quân cho Việc Họ . Trong hoàn cảnh đó, Từ đường còn
khiêm nhường, Gia phả còn chưa đầy đủ, tản mát và chưa tương xứng,
chưa định ra được cấp các kỳ giỗ . Âu cũng là một day dứt lớn ! Con cháu
nên thấy điều đó mà cảm thông cho tiền nhân và gắng sửa chữa, bổ sung
khi có điều kiện.
| Con cháu tham gia ngày tế họ |
Dù trong thời nào, chiến tranh hay hòa bình vai trò của người Gia
trưởng rất quan trọng. Nếu người đó hội đủ các yếu tố: Tâm (Hiếu
đễ, Hòa kính, trách nhiệm…), Tài (khả năng tài chính đủ ăn, đủ chi),
Trí (hiểu biết về xã hội, về lệ tục, có trình độ, có vị thế trong xã
hội, biết sắp xếp công việc), Thể (có sức khỏe, xốc vác, minh mẫn) thì
gia đình đó hay Chi, Phái đó hoặc toàn Gia tộc sẽ vững vàng đi vào hưng
thịnh. Đây là người Thiên định, không phải do bầu, do cử hay tranh
mà được. Nhưng khó ai hội đủ 4T đó nên căn bản nhất vẫn là cái
Tâm. Tâm sáng, lòng trong thì có thể vượt qua được, xứng là ngọn cờ
tập hợp toàn gia, dù có nhiều khó khăn trắc trở. Kéo theo đó, vai trò
của Dâu trưởng lại càng quan trọng ở tính Nhẫn, Hiếu, Đễ. Nếu gặp bậc
gia trưởng chưa được như ý mà người nào trong họ, trong nhà tỏ ý
khinh nhờn thì người đó, nhà đó sớm muộn gì cũng không có hậu vận hanh
thông. Ngược lại, có người tuy thuộc Chi thứ, Ngành thứ, là con thứ,
thậm chí là Rể nhưng nếu hội đủ hay đáp ứng phần nào 4T mà thực sự có
Tâm thì rất có vai trò, ảnh hưởng trong dòng họ và khi đó gia trưởng mà
biết lắng nghe, tận dụng thì gia tộc sẽ hưng thịnh. Đó là do Đời định. Nếu Thiên định và Nhân định hài hòa thì thật toàn vẹn!.
Người ta có thể thực hiện việc ly khai, tách, hợp một vùng đất,
chia phái trong một tôn giáo nhưng không ai bỏ được họ (trừ những trường
hợp phải thay, cải họ như). Việc thờ cúng
Thần, Thánh, Phật, Chúa... là đi theo cái tưởng tượng, nó sẽ
biến đổi theo thời cuộc và sự nhận thức của mỗi người, của xã hội. Còn
việc thờ cúng Tổ tiên là tâm linh tưởng niệm về cái có thực, ghi nhớ
đấng sinh thành. Đồng thời suy cho cùng thì các bậc được tôn xưng là
Thánh, Thần, Phật, Chúa đều được gắn với những gương Hiếu thảo. Do đó
việc “Họ” sẽ trường tồn, tất nhiên mỗi thời sẽ mỗi khác. Trong việc này
vai trò của Gia trưởng rất quan trọng, quan viên họ phải theo. Song
người Trưởng tộc chỉ cần giữ vai trò cố vấn và quyết định những vấn đề
thuộc về Việc họ còn mọi việc khác nên tôn trọng tự do của các thành
viên. Trong thời hiện đại, không còn ruộng hương hỏa, Trưởng họ nhiều
khi lại không sinh sống ở quê, đòi hỏi mỗi Gia tộc cần có Từ đường, Tộc
ước, Ban liên lạc hay Hội đồng gia tộc.
Càng hiểu càng phải thấm thía và mong muốn rằng: Tổ mở mang, dựng
nghiệp, đời sau vun đắp, giữ gìn và phát triển. Như thế theo mạch nguồn
và lẽ tự nhiên dòng chẩy ngày càng xa rộng, cành lá càng xum xuê xanh
tốt. Qua đây cũng có thể dự đoán được tương lai con cháu mỗi nhà, từng
chi, từng phái. Nếu nghiên cứu kĩ Gia phả nhiều nhà, nhiều họ sẽ biết
được lịch sử một làng, một vùng và rộng hơn là cả nước. Nghiệm ra được
như vậy tức là tâm nguyện của người soạn ra cuốn này đã được thỏa mãn.
Đó là ý nghĩa sâu xa của Gia phả vậy.
4. Tiếp việc Họ trong thời đại mới:
Trong xã hội hiện đại, các mặt kinh tế, chính trị, xã hội có nhiều
biến động. Kéo theo nó là nhiều chuẩn mực đạo đức, nếp sống đã thay đổi,
thậm chí trái ngược và sẽ còn đổi thay nữa. Trong điêù kiện đó, nhiều
gia đình, một số dòng họ, chi họ bị tan vỡ, lỏng lẻo, xói mòn bởi những
văn minh vật chất thời kĩ thuật số cuốn trôi những quan niệm, nếp nghĩ,
cách sống cũ. Có người từng cảnh báo: Thu nhập ngày một cao hơn mà nghĩa
tình ngày một thấp đi; Nhà cửa to đẹp hơn mà tính cách nhỏ nhen đi;
Thuốc men, chất bổ mạnh mà sức cơ bắp yếu đi; Xe cộ, áo quần, tiện nghi
ngày càng hoàn bị và tốt đẹp, mà không khí trong lành, nguồn nước tinh
khiết, môi trường sinh thái ngày càng tồi tệ hơn...Trong hoàn cảnh đó,
Gia đình là “pháo đài bảo đảm an toàn cho mọi thành viên trước các cám
dỗ, cạm bẫy của cuộc sống đầy nghịch lý thời hiện đại” và Gia Tộc, từ
tiểu chi đến đại tông, chính là phòng tuyến, tầng tầng lớp lớp, để bảo
vệ nền nếp gia phong, truyền thống dòng họ, thuần phong mỹ tục, truyền
thống dân tộc, … của chúng ta. Trên cơ sở đó, những giá trị truyền thống
được hình thành, chắt lọc, thử thách qua bao đời, được đổi bằng mồ hôi,
nước mắt, máu xương, được trải nghiệm qua những tháng năm cơ cực, nhọc
nhằn đã bám rễ sâu trong lòng gia tộc, vẫn có sức sống mãnh liệt, sẽ
luôn đồng hành và vẫn có ích soi rọi mỗi bước đi, cách nghĩ của hậu thế.
Tuy không duy tâm nhưng tôi tin: “Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân”
(Trời không phụ người có lòng tốt):
Trung, Tín, Nghĩa, Nhân - Thiên địa thấu
Hiếu, Hiền, Tâm, Lễ - Tổ tiên minh
Lớp tiền tiêu, lớp kế tiếp và mãi về sau, những gia đình Trần tộc cùng các gia đình khác đã, đang và sẽ xây đắp nên thôn, bản đàng hoàng
chốn quê gốc và nơi quê mới. Công lao đó của tiền nhân không hề nhỏ, con
cháu ngày nay và mai ngày phải ghi nhớ và gắng bước noi theo, phát huy
trên một tầm cao mới:
Lớp Trước khai hoang, tìm nơi Địa lợi, trải lắm gian nan, bền chí dựng Tương lai, Công Đức lưu truyền vĩnh viễn,
Người Sau chấn hưng, chớp buổi Thiên thời, qua nhiều khốn khó, quyết tâm xây Hạnh phúc, thôn xóm phát triển huy hoàng .
Trên tinh thần đó, mỗi gia đình trong họ cần nhớ và luôn phấn đấu đạt tiêu chí “Gia đình văn hoá” mà biểu hiện tập trung là:
- Gia đình thời Công nghiệp hoá là gia đình hạt nhân 2 thế hệ. Song
dù thế nào điều cốt lõi cũng phải xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và
tiến bộ trong đó ông bà cha mẹ được chăm sóc chu đáo, con cái được học
hành dạy bảo đến nơi đến chốn; vợ chồng hoà thuận, anh em hiếu đễ.
- Đoàn kết tương trợ làng xóm, khối phố và họ mạc giúp nhau cùng
tiến bộ. Đây không chỉ là truyền thống mà còn là yêu cầu bức thiết của
thời chuyên môn hoá cao trong lao động và sinh hoạt.
- Thực hiện tốt, đầy đủ các nghĩa vụ công dân. Nêu cao vai trò cá
nhân, tôn trọng nhân quyền nhưng trong gia đình, dòng họ chớ quên cái
tình, cái nghĩa.
- Chấp hành pháp luật Nhà nước, quy định của địa phương, quy ước
thôn, phố để điều chỉnh mọi hoạt động cho phù hợp, đạt hiệu quả cao.
- Xác định việc Họ là việc làm tự nguyện, công tâm hướng về cội
nguồn và là trách nhiệm chung. Mọi quyết định cần bàn bạc dân chủ trên
cơ sở thỏa hiệp, tôn trọng ý kiến các bậc Trưởng lão.
- Trong hoàn cảnh ít ai quần cư nơi quê gốc, mọi thành viên đều hối
hả trong việc mưu sinh, hưởng thụ thì vấn đề duy trì Việc họ đòi hỏi
phải nỗ lực hơn và trong họ cần có những quy ước mới về cúng giỗ cho
thích hợp.
Từng cá nhân phấn đấu, mỗi gia đình phấn đấu sẽ tạo dựng được dòng
họ văn hoá, góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội
Cùng với việc đó là việc thường xuyên, liên tục duy trì việc lập Gia
phả. Ngày sinh, ngày mất, mộ phần, những công tích của các thành viên
trong Họ phải được chép, bổ xung thường xuyên. Việc chắp nối nhận họ,
nhận chi trong tông tộc cũng cần được chú trọng. Những điều hay, lẽ
phải, việc tốt phải ghi lại, lưu truyền làm gương cho đời sau. Đồng thời
việc dở, điều xấu cũng phải chép ra để đời sau thấy thế mà sợ, mà tránh
và mỗi thành viên, mỗi đời trong họ đều được hưởng Phúc Mãn Đường,
góp phần để cho Đức Lưu Quang.
Nếu người nào, gia đình nào thấy ở đây thông tin bổ ích mà soạn ra
Gia phả nhà mình hay dùng để chắp nối họ thì tôi sẵn sàng trao đổi và
cùng bổ khuyết.
Theo trào lưu chung và để việc lưu giữ được lâu dài, phổ biến rộng
rãi để nhiều người biết, bổ cứu, đồng thời với việc soạn trên Word, in
dâng lên yết cáo Từ đường, cung cấp cho các Trưởng Chi, tôi đưa Gia phả
lên mạng ở trang http://sonhanhatanh.blogspot.com/ để quan viên cùng con cháu trong họ và ai quan tâm
cùng nghiên cứu, trao đổi.
Xin cảm tạ Tiền nhân, đặc biệt là thân phụ đã để lại những tư liệu,
bản ghi mà tôi được tiếp thu, nghiên cứu, có cơ sở gợi ý mà sưu tầm, bổ
sung và phát triển thêm; cảm ơn các bậc cao niên trong họ và anh em, con
cháu đã cung cấp tư liệu; tham gia, góp ý; động viên, khuyến khích tôi
hoàn thành cuốn Gia phả này.
Sau này con cháu tôi thấy điều gì các phần trên sai, chưa đủ thì
viết lại gọi là Tục biên còn những sự việc xẩy ra tiếp sau thời điểm này
thì vẫn là Chính biên.
Tôi mong một ngày nào đó có người đứng ra dựng lại gia phả hoàn
chỉnh của dòng tộc như một số họ đã và đang tiến hành. Phần tôi vừa là
hậu sinh, ngành thứ lại không ở quê nên khó bề thực hiện.Với cuốn Gia
phả này tôi muốn góp một phần nào về sưu tầm, ghi chép của mình theo ý
tưởng đó. Nếu ở đây còn có điều gì chưa chuẩn xác, nhận xét nào chưa
khách quan thì cũng dễ hiểu và tôi luôn mong có sự trao đổi, đính chính,
bổ sung. Để mọi thành viên trong họ đều hiểu rõ gốc gác, lược sử dòng
họ cần được phổ biết trong mỗi dịp cúng giỗ.
Ngày trước mỗi dòng họ, dù giầu hay nghèo cũng đều có phần ruộng,
đất hương hoả (Tự Điền) để Trưởng tộc có kinh phí lo hương khói và
ghi chép Sổ họ. Nay ruộng đất là “Công thổ Quốc gia”, kinh phí duy
trì việc họ do đóng góp, hảo tâm, công đức của con cháu. Nhiều con
cháu, gia đình, do sinh kế, do công tác đã định cư, sinh sống trải khắp
nước. Trưởng Chi, Trưởng Tộc không thể tự duy trì Sổ họ và dựa vào đó để
chép Gia phả được. Tôi nghiệm ra rằng họ ta tuy không phải thuộc loại
thi thư hay quan trường nhưng cũng không hẳn là thấp hèn, yếu thế. Như
thế việc sọan, lưu truyền Gia phả là rất cần để ghi lại công đức tiền
nhân, truyền thống gia đình, giáo dục cho hậu thế.
Tôi có lợi thế là đi nhiều, được học hành khá cơ bản, tiếp thu được
lời uỷ thác của thân phụ và có khả năng khai thác tư liệu ở Thư viện,
trên Internet và sử dụng được máy vi tính lại khá rảnh về thời gian. Do
vậy đã quyết tâm thu thập tư liệu và soạn thảo. Những ghi chép của tôi
có ích cho con cháu tôi nơi Biên thuỳ và chắc rằng cũng sẽ là tư liệu
tham khảo tốt cho các Chi, Ngành, Gia đình khác. Nếu mỗi người có ý thức
tục biên và ghi chép lại lịch sử của gia đình, Chi, Ngành mình thì đến
một lúc nào đó chúng ta sẽ chắp nối và soạn lại được Gia phả Trần tộc một cách tương đối hoàn chỉnh.
Việc ghép nối Gia phả để kết, chắp tìm ra mối liên hệ giữa các chi
phái cùng họ trong một vùng, một tỉnh đến toàn quốc là việc nên làm
nhưng đòi hỏi tâm huyết, công sức, thời gian, tiền của và trí tuệ của
nhiều người. Điều đó còn đang ở phía trước. Kèm theo cuốn này còn có
cuốn “Một số nhân vật, địa danh, phong tục, thuật ngữ đã được và cần tìm
hiểu khi soạn hay đọc Gia phả” do tôi sao lưu, biên tập lại các tư liệu
mà mình tìm kiếm, khai thác được.
Trên đây là vài lời tâm huyết giãi bầy của tôi để anh em, con cháu
hiểu cho và cùng chia sẻ. Tôi mong rằng con cháu tôi sẽ kế tục nhau viết
tiếp, cứ sau 5 năm cần tục biên một lần, 25 năm cần tổng chỉnh rồi phổ
biến để Gia Phả gia đình không có thời kì nào rơi vào tình trạng ngắt
quãng.
Thanh Chi, ngày 13/01/2012
Trưởng tộc




















2 nhận xét:
http://www.youtube.com/watch?v=vynzR96ZVBM
tình cảm dâng trào, Trần Sỹ Khánh con ông Trần Văn Điểu, thô 8b thanh chi, Thanh Chương, N.A
Đăng nhận xét