Tể tướng Nguyễn Văn Giai (1554-1628)
![]() |
| Bên dòng sông quê hương |
Nguyễn
Văn Giai người xã Ích Hậu, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An, nay thuộc
huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Tên tuổi ông đã được nhắc đến nhiều trong sử
sách xưa như các bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và Quốc sử quán triều Lê, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782-1840), Thiên Lộc huyện chí
của Lưu Công Đạo (chưa rõ năm sinh, năm mất, chỉ biết ông đậu Hương
cống năm 1813)... Công lao sự nghiệp của ông cũng đã được ghi chép khá
tường tận trong các sách mới xuất bản gần đây như các cuốn Địa chí huyện Can Lộc (Võ Hồng Huy chủ biên), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (Gs
Đinh Xuân Lâm và Gs Trương Hữu Quýnh chủ biên). Tuy vậy, ghi chép của
người xưa thường công thức, mà của người nay thì tư liệu không lấy gì
làm dồi dào. Bài viết này làm rõ thêm một số vấn đề liên quan đến vị tể
tướng đầu triều này.
1. Từ những ghi chép của người xưa
Các
sách xưa đều chép Nguyễn Văn Giai sinh ra trong một dòng họ cao khoa
hiển hoạn nhiều đời. Bản thân ông có đạo đức mẫu mực mà gia đình giàu
sang tột bậc, phúc lộc vẹn toàn. Có thể tham khảo lời bàn của Lưu Công
Đạo trong cuốn Thiên Lộc huyện chí: “Trải đời làm quan, ông đã lần lượt thờ ba triều vua Thế Tôn, Kính Tôn và Thần Tôn. Ngồi
ở chiếu tể phụ suốt 29 năm, nắm giữ quyền sáu bộ trong 12 năm, là ông
quan giữ chức vị cao nhất mà chúa thượng không vì thế mà có sự nghi ngờ.
Ông có 33 người con (13 trai và 20 gái) đều thành đạt quý hiển; trong
hàng thê thiếp có 13 bà được thụ phong quận phu nhân, á phu nhân, chính
phu nhân; 1 bà được phong danh hiệu Đại vương (Thoát trâm phụ chính đoan
trang trinh tiết). Ông, cha có 2 người được ấm phong hàm Thái bảo, tước
Hầu. Một đời hiển vinh tột bậc mà thiên hạ vẫn cho như vậy không có gì
là quá đáng. Ông có những người con nuôi như Thái phó Tào Quận công,
Thượng thư Hải Thọ hầu, nhưng đương thời không cho đó là bè đảng. Ông
giết Hùng Lĩnh hầu, đứa con thứ ba của mình, rồi mở tiệc ca hát đến ba
ngày, nhưng người đời không cho đó là kiêu mãn. Tuy là bậc hiển quý,
nhưng trong các buổi chầu, khi tâu bày việc gì ông không hề quên giọng
nói gốc gác của làng quê, triều đình cũng không cho thế là cử chỉ thô
chướng, khó coi.
Ý
chừng trung để thờ trên, thuận để giữ mình, không xao lãng đức tính
trung thuận là xuất phát từ lòng tin ở đạo, có phải vậy chăng? Nếu không
như vậy sao lại đảm bảo thủy chung trọn vẹn, vĩnh thịnh tiếp nối đời
đời, con cháu ông được hưởng thụ phúc khánh dài lâu?”(1)
Về học vị của Nguyễn Văn Giai, các sách Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều chép là Hội nguyên nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp), nhưng sách Lịch triều hiến chương loại chí phần Nhân vật chí lại chép là Hội nguyên, Đình nguyên nhị giáp Tiến sĩ. Sau này các sách Địa chí Can Lộc, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam... đều chép theo Lịch triều hiến chương loại chí là không đúng vì chính sách này về sau trong phần Khoa mục chí đã
nói rõ từ năm 1580 (năm Nguyễn Văn Giai dự thi), triều Lê - Trịnh mới
bắt đầu khôi phục lại khoa thi Hội, được mở tại hành cung An Trường (Vạn
Lại, Thọ Xuân, Thanh Hóa) chứ chưa có thi Đình. Dịch giả các bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng
đều chú thích như vậy. Sau khi đã đánh thắng nhà Mạc, trở về Thăng
Long, năm 1595, nhà Lê Trung Hưng mới cho hội cống sĩ ở bờ sông Nhị Hà
(sông Hồng) tổ chức thi Hội, và cũng từ đó mới có thi Đình(2).
Về bước đường công danh, sách Thiên Lộc huyện chí cho biết: sau khi thi đỗ, Nguyễn Văn Giai được bổ vào Viện Hàn lâm, rồi bị mất chức, về nhà sáu năm. Sách Lịch triều hiến chương loại chí không hề chép việc đó. Có thể Thiên Lộc huyện chí của
Lưu Công Đạo chép đúng, vì tuy sống sau Nguyễn Văn Giai khoảng trên
trăm năm, nhưng ông là người cùng xã nên dễ khai thác các nguồn tư liệu
địa phương. Mảng thơ Nôm truyền tụng cũng góp phần minh chứng hoạn lộ
của Nguyễn Văn Giai không phải lúc nào cũng hanh thông...
2. Đến 4 bài thơ Nôm truyền tụng
Không
thấy sử sách nhắc đến các tác phẩm thơ văn chữ Hán của Nguyễn Văn Giai.
Có thể vì văn võ song toàn, lại sống ở thời ngổn ngang, náo loạn của
nhân tâm, thế sự, ông chỉ mải mê lập công, lập đức mà không chú ý lập
ngôn chăng? Hoặc vì tác phẩm của ông chưa hay? Đương thời chỉ có Hoàng
giáp Phùng Khắc Khoan (1528-1613) là nhà thơ nổi tiếng với các tập thơ
chữ Hán Ngôn chí thi tập, Mai lĩnh sứ hoa thi tập và mấy bài thơ Nôm Ngư phủ nhập Đào Nguyên, Lâm tuyền vãn... Danh sĩ Phạm Đình Hổ (1768-1839) nhận xét: “Thơ (buổi đầu) thời Lê Trung Hưng thì chỉ câu nệ về khuôn phép, xu thế thấp kém, không kể làm gì”(3).
Theo Gs Nguyễn Huệ Chi: “Nói
về văn nghiệp Nguyễn Văn Giai chỉ còn để lại 4 bài thơ Nôm, ít nhiều
chưa thật chắc chắn về xuất xứ. Nhưng đó là 4 bài thơ đặc sắc, có giọng
điệu và phong cách nghệ thuật khá nhất quán”(4). Bốn bài thơ đó giúp ta hiểu thêm nhiều về ông.
Thuở trẻ còn hàn vi, ông đã có bài thơ Nằm co đầy bản lĩnh: “Ba
gian nhà cỏ một mình truồng/ Rét phải nằm co há phải cuồng/ Cá nọ xẹp
vi miền Bắc hải/ Rồng kia uốn khúc chốn Nam dương/ Lòng trung hiếu, bo
còn giữ/ Hội công danh, cuốn chửa giương/ Có khuất bao nhiêu thì có
duỗi/ Ra xuân đầm ấm sẽ buông tuồng”. Tiếp đó là bài Nói khoác đậm đà kiểu nói trạng xứ Nghệ: “Ta
con ông Trạng, cháu ông Nghè/ Nói khoác trên trời dưới đất nghe/ Sức,
Hạng Vương tày nửa đấm/ Cờ, Đế Thích chấp hai xe/ Lội ngay xuống biển co
tàu lại/ Nhảy tót lên non cưỡi cọp về…”. Bằng thủ pháp thậm
xưng, tác giả đã tỏ rõ sự tự tin rất lớn vào tài sức của mình. Lời thơ
đang thật hài hước bỗng dưng trở nên hết sức nghiêm túc khi tác giả bộc
lộ chí hướng của mình giữa thời buổi rối ren: Mai mốt đem quân vào phủ chúa/ Ra tay diệt Mạc để phù Lê”(5).
Kiên
định phù Lê ngay từ buổi đầu là chí lớn của ông và cũng là chí hướng
chung của nho sĩ xứ Nghệ bấy giờ. Tương truyền khi còn nhỏ ông đã từng
viết vế đối “Thiên cổ tội nhân” lên cánh diều giấy để chọi với dòng chữ “Lưỡng triều tể tướng”
trên lá cờ của Thượng thư Phan Đình Tá (người cùng xã, đậu Hoàng giáp
năm 1499) - một người bỏ Lê phù Mạc. Chính Phan Đình Tá về sau cũng hối
hận, bèn cáo quan về quê nhà(6).
Điều đáng tiếc là Nguyễn Văn Giai đã toàn tâm toàn ý đem trí dũng xuất sắc của mình phục vụ cho một triều đại không
còn xứng đáng đại diện cho dân tộc. Ông có công lớn giúp triều đình
thắng nhà Mạc và ổn định biên giới phía Bắc, và nhờ vậy gia đình ông
giàu sang, nhưng ông đã không thể giúp dân chúng thoát khỏi cảnh đói
nghèo. Bản thân ông cuối đời cũng bị con Trịnh Xuân lập mưu trả thù,
phải uống thuốc độc tự tử(7). Có lẽ vì vậy mà mặc dù quyền nghiêng thiên hạ, có lúc dường như ông vẫn cảm thấy đời không mấy ý nghĩa. Trong bài thơ Tự trào, ông đã tự đùa cợt với chính địa vị của mình: “Ba
vua, bốn chúa, bảy thằng con/ Trên chửa lung lay, dưới chửa mòn/ Chí
chưa thành, danh cũng hổ/ Hòm sẵn đó, chết thì chôn/ Giang hồ, lang miếu
trời đôi ngả/ Bị gậy cân đai đất một hòn/ Cũng muốn sống thêm dăm tuổi
nữa/ Sợ ông Bành Tổ tống đồng môn”. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi nhận xét: “Cả
bài thơ là một chuỗi cười ngạo nghễ của người tuy già mà vẫn tin mình
còn rất khỏe... già mà vẫn rất tinh... dám gọi xách mé các đời vua chúa
thuở bấy giờ bằng những con số trống không để tính đếm như tính đếm đám
con của mình...”. Giáo sư còn chú ý đến cái nhìn cởi mở, bình đẳng trước mọi loại người, mọi nghề nghiệp: “Dẫu
là kẻ tứ chiếng giang hồ quanh năm bị gậy, hay là người khoác cân đai
nơi lang miếu của triều đình thì cuối cùng khi đậy nắp quan tài lại cũng
chỉ là một hòn đất như nhau”(8). Bài Đèn kéo quân mà một số người nhầm là của ông Nghè Nguyễn Quý Tân (1814-1858) cũng cùng chung cái nhìn đó: “Một lũ ăn mày, một lũ quan/ Quanh đi quẩn lại cũng một đoàn/ Đến khi dầu cạn đèn không cháy/ Chẳng thấy ăn mày, chẳng thấy quan”.
Tính
cách cao ngạo, phóng túng của Nguyễn Văn Giai sau này sẽ được nhà thơ
đồng hương Nguyễn Công Trứ (1778-1858) phát triển cao hơn. Thái độ coi
thường cả vua chúa và cách dùng từ thông tục: nói khoác, tày nửa đấm, nhảy tót, cưỡi... mở đường cho bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương - một nhà thơ đồng hương khác phát triển.
3. Thay lời kết
Như
vậy, cuộc đời vị Tể tướng Nguyễn Văn Giai vẫn còn có những ẩn số! Lời
bàn của Hương cống Lưu Công Đạo đã dẫn ở trên tưởng đã đầy đủ nhưng vẫn
còn khoảng trống. Thời Nguyễn Văn Giai sống không còn là thời Lê Thái Tổ
(1428-1433), Lê Thánh Tông (1460-1407)... Các vua Lê chỉ còn hư vị.
Sống trong một thời đại phức tạp vừa có vua, vừa có chúa chưa từng có
trong lịch sử Đại Việt, công lao khuông phò triều đình nhằm ổn định đất
nước của vị Tể tướng xứ Nghệ tài trí tuyệt vời này thật là lớn lao, xứng
đáng được hậu thế đời đời ngưỡng mộ./.
Chú thích
(1) Dẫn theo Võ Hồng Huy (Chủ biên), Địa chí huyện Can Lộc, Huyện ủy - UBND huyện Can Lộc, Sở Văn hóa và Thông tin Hà Tĩnh, 1999, tr.468.
(2) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Sử học, Hà Nội, 1961, tập 3, tr.17.
(3) Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút, Nxb Trẻ, Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học TP Hồ Chí Minh, 1989, tr.144.
(4), (5), (8) Nguyễn Huệ Chi, Thử nhận diện văn học Thăng Long mười thế kỷ, Bài trên trang web Thư mục Nguyễn Huệ Chi.
(6), (7) Thái Kim Đỉnh, Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh, Hội liên hiệp Văn hóa Nghệ thuật Hà Tĩnh, 2004, tr.46-47, 53.
Hồ Sĩ Hùy

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét