Vào dịp đó người ta thường tổ
chức ăn uống, nên mới gọi là ăn giỗ, thì cũng là trước cúng sau ăn, cũng là
để cho cuộc gặp mặt đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp, kể chuyện tâm
tình, chuyện làm ăn. Với ý nghĩa "Uống nước nhớ nguồn" việc đó có
thể xếp vào loại thuần phong mỹ tục.
* Ngày cúng giỗ
Ngày giỗ theo âm Hán là huý nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ
niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ.
Nguyên ngày trước, "Lễ giỗ" gọi là "Lễ
chính kỵ"; chiều hôm trước lễ chính kỵ có "lễ tiên thường"
(nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên
nếm trước. Ngày xưa, những nhà phú hữu mời bà con làng xóm ăn giỗ cả hai lễ
tiên thường và chính kỵ. Dần dần hoặc vì bận việc hoặc vì kinh tế hoặc vì
thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi, chỉ mời khách một lần nhưng
hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả hai lễ. Tóm lại, nếu vận dụng đúng phong tục
cổ truyền phổ biến trong cả nước thì trước ngày chết (lễ tiên thường) phải
cúng chiều, cúng đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng buổi sáng.
* Mấy đời tống giỗ
 |
| Lễ giỗ chính kỵ ngày 21 tháng 9 năm 2012 |
Theo gia lễ: "Ngũ đại mai thần chủ", hễ đến năm
đời thì lại đem chôn thần chủ của cao tổ đi mà nhấc lần tằng tổ khảo lên bậc
trên rồi đem ông mới mất mà thế vào thần chủ ông khảo.
Theo nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao, tằng, tổ, phụ (4 đời
trên); thân mình và tử, tôn, tằng tôn, huyền tôn (4 đời dưới mình). Như vậy
là chỉ có 4 đời làm giỗ (cao, tằng, tổ, phụ) tức là kỵ (hay can), cụ (hay cố),
ông bà, cha mẹ. Từ "Cao" trở lên gọi chung là tiên tổ thì không
cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của thuỷ
tổ.
T.S( sưu tầm)
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét